Hiển thị các bài đăng có nhãn Y Tế - Sức Khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y Tế - Sức Khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Vi Khuẩn, Sự Lây Lan Và Cách Phòng Ngừa

1

Sự Khác Biệt Giữa Virus Và Vi Khuẩn, Sự Lây Lan Và Cách Phòng Ngừa

Virus và vi khuẩn đều là những nguyên nhân gây bệnh chủ yếu khi hệ miễn dịch của con người bị suy yếu. Chúng ta nên biết rõ sự khác nhau giữa virus và vi khuẩn để có cách phòng và điều trị bệnh hợp lý khi bị bệnh do vi khuẩn hoặc virus gây ra.virus và vi khuẩn khác nhau như thế nào1. Virus (Vi rút) là gì
Vi rút là những sinh vật nhỏ li ti, muốn nhìn thấy chúng phải nhờ kính hiển vi điện tử. Vi rút lớn lên và phát triển chỉ khi chúng sống trong tế bào sống. Sống ngoài tế bào sống, vi rút sẽ tự hủy diệt, không thể phát triển, trừ khi chúng sống trong tế bào động vật, thực vật hay vi khuẩn. Vi rút gây bệnh cho người và vật do thở hay nuốt vào, đột nhập vào lỗ hổng trên da.
Virus bao gồm vật liệu di truyền (DNA hoặc RNA) bao quanh bởi một lớp phủ bảo vệ của protein. Có khả năng bám vào các tế bào và nhận được bên trong chúng.virus và vi khuẩn khác nhau như thế nàoVirus có thể xâm nhiễm vào tất cả các dạng sinh vật, từ động vật, thực vật cho tới vi khuẩn và vi khuẩn cổ. Virus được tìm thấy ở hầu hết mọi hệ sinh thái trên Trái Đất và là dạng có số lượng nhiều nhất trong tất cả các thực thể sinh học. Một virus có kích thước trung bình vào khoảng 1/100 kích cỡ trung bình của một vi khuẩn.
* Nguồn gốc của virus:
– Dựa vào cấu tạo: Virut do sự kết hợp giữa các đại phân tử protêin và axit nuclêic, nằm giữa ranh giới của vật thể sống và không sống.
– Dựa vào lối sống kí sinh bắt buộc: Virut bắt nguồn từ một loại vi sinh vật sống kí sinh thoái hóa dần các cơ quan không cần thiết.
– Dựa vào cách nhân lên: Virut có thể là một đoạn gen hay một bào quan nào đó đã tách ra hoạt động độc lập. khi kí sinh lại, chúng có thể nhân lên hay xen cài vào nhiễm sắc thể của tế bào.virus và vi khuẩn khác nhau như thế nào– Theo thuyết tiến hóa: Từ các chất vô cơ dưới tác dụng của nhiệt độ cao, áp suất lớn, và những thời kì địa chất lâu dài, khí hậu biến đổi, các chất hữu cơ hình thành từ đơn giản đến phức tạp (CH4,CO2,NH3 —> các nucleotic —> chuỗi nu —> axít amin —> protein —> các dạng sống) dấu mốc quan trọng là sự hình thành các hạt côa-xéc-va có màn bán thấm, có khả năng trao đổi chất với môi trường và có khả năng sinh sản. Đây là một dạng sống khá giống với virút. Dần dần hoàn thiện, 1 phần là những con vi rút thời nay, phần còn lại tiến hóa thành những dạng phức tạp hơn.
2. Vi khuẩn là gì
Vi khuẩn thuộc loại đơn bào, có ở khắp mọi nơi, chỉ một giọt sữa chua là có thể chứa 100 triệu vi khuẩn. Hầu hết các vi khuẩn sinh sản bằng cách phân bào ( một tế bào tách làm đôi ). Vi khuẩn giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa của người và vật, giúp hóa mùn cây cối và súc vật chết, giúp cho tiến trình lên men hiệu quả.sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusCó khoảng 40 triệu tế bào vi khuẩn trong một gram đất và hàng triệu tế bào trong một mm nước ngọt. Ước tính có khoảng 5×1030 vi khuẩn trên Trái Đất, tạo thành một lượng sinh khối vượt hơn tất cả động vật và thực vật. Vi khuẩn có vai trò quan trọng trong tái chế chất dinh dưỡng như cố định nitơ từ khí quyển và gây thối rữa sinh vật khác.
Trong vùng dinh dưỡng quanh cách mạch nhiệt dịch và lỗ phun lạnh, vi khuẩn cung cấp những chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sống bằng cách biến đổi các hợp chất hòa tan như hydro sulphua và metan thành năng lượng, chúng có thể phát triển mạnh ở nơi sâu nhất trên Trái Đất là rãnh Mariana. Các nghiên cứu khác liên quan cũng chỉ ra rằng chúng có thể sống bên trong các đá ở độ sâu 1900 feet bên dưới đáy biển và cách ngoài khơi bờ biển tây bắc Hoa Kỳ.
3. Sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus
http://khoemoivui.com/wp-content/uploads/2014/12/10S2905.gif
(Chú thích: dấu + là Có, dấu – là Không)
Vi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được
Vi khuẩn còn được gọi là vi trùng, chúng hiện diện khắp nơi trong đất, nước và ở dạng cộng sinh với các sinh vật khác. Một số là tác nhân gây bệnh và gây ra bệnh uốn ván, thương hàn, giang mai, tả, bệnh lây qua thực phẩm và lao. Một số nhiễm khuẩn có thể lan rộng ra khắp cơ thể và trở thành bệnh toàn thân. Bệnh do vi khuẩn lây nhiễm qua tiếp xúc, không khí, thực phẩm, nước và côn trùng.sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusVi khuẩn gây viêm nhiễm nhưng diệt được mầm bệnh, bệnh do bị nhiễm khuẩn có thể trị bằng thuốc kháng sinh, được chia làm hai nhóm là diệt khuẩn (bacteriocide) và kìm khuẩn (bacteriostasis), với liều lượng mà khi phân tán vào dịch cơ thể có thể tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn.
Kháng sinh vô tác dụng với vi rút
Vi rút chỉ có thể sống và phát triển được khi xâm nhập vào bên trong tế bào của sinh vật khác (người, động vật và cây cỏ) và khi ra khỏi ký chủ, vào môi trường ngoài (nước, không khí…) chúng sẽ không sống được lâu.
Ngày nay, khoa học đã phát hiện có khoảng 2.000 loài vi rút khác nhau, trong đó có khoảng 300 loài có khả năng gây bệnh cho người như AIDS, viêm gan B và C, sốt xuất huyết, bại liệt, bệnh dại, đậu mùa, cúm…sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusKhác với vi khuẩn, vi rút đánh vào hệ miễn dịch của cơ thể nên điều trị bằng kháng sinh không có tác dụng mà chỉ có thể chống lại bằng cách tiêm vắc xin. Riêng các loại vi rút gây cúm, vì chúng biến chủng rất nhanh nên vắc – xin chế từ vi rút năm này lại không hữu hiệu với cùng vi rút ấy cho năm tới. Vì thế các loại vắc xin hiện có không ngừa được virus cúm A (H1N1).
Khi thời tiết chuyển mùa hay trở lạnh sẽ là điều kiện thuận lợi để vi rút gây bệnh.
4. Tại sao kháng sinh không điều trị được bệnh do virut?
Năm 1928, tại Bệnh viện Saint Mary (London), Alexander Plemming phát hiện ra chất kháng sinh diệt khuẩn và đặt tên là penicillin. Loại kháng sinh này được tìm ra từ nấm Penicillium notatum. Sau đó có rất nhiều nhà nghiên cứu về kháng sinh penicillin và đến năm 1943, dự án sản xuất penicillin được Chính phủ Mỹ chấp nhận và từ đây kháng sinh penicillin chính thức ra đời, cứu sống được vô vàn người mắc bệnh nhiễm khuẩn.
Từ penicillin, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm tòi ra vô vàn các loại kháng sinh khác nhau và đã xếp chúng thành nhiều nhóm dựa vào cấu tạo và cơ chế tác dụng đối với vi khuẩn.sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusKháng sinh đối với virut thì như thế nào?
Do cấu tạo virut hoàn toàn khác biệt với tế bào vi khuẩn và nó không phải là một tế bào hoàn chỉnh bởi cấu tạo đơn giản hơn rất nhiều so với tế bào vi khuẩn chỉ là bộ gen (hoặc DNA hoặc RNA) bao quanh là lớp vỏ protein chứa nhiều kháng nguyên, vì vậy được gọi là “phi tế bào”. Do cấu tạo đặc biệt đó nên bắt buộc virut phải sống ký sinh bên trong tế bào túc chủ mà nó xâm nhiễm, bởi vì virut không có hệ thống enzym hoàn chỉnh nên không thể tự tạo ra năng lượng cho mình hoặc tự sinh sôi nảy nở được. Do đó, để tồn tại và phát triển thì virut phải xâm nhập vào trong các tế bào khác (tế bào túc chủ) và “gửi” các vật liệu di truyền của mình.
sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusKhi vào cơ thể, áo protein bị loại bỏ, chỉ hoạt động bởi ARN hoặc ADN của nó, không có cách gì để nhận biết. Hơn nữa, kháng sinh diệt được vi khuẩn vì vi khuẩn ký sinh ngoài tế bào nên kháng sinh có thể diệt nguyên vi khuẩn, còn virut nằm trong vật chất di truyền của tế bào túc chủ cho nên nếu kháng sinh diệt virut thì đồng nghĩa với diệt cả tế bào của túc chủ (người hoặc động vật). Vì vậy, nếu thuốc kháng sinh muốn tấn công virut sẽ phải biết chọn lọc không tấn công vào các bộ phận “tầm gửi” này (tức là không tấn công vào tế bào túc chủ) và đây thực sự là cản trở cực lớn. Hơn thế nữa, virut còn có khả năng nằm ẩn mình vài năm trong tế bào trước khi phát bệnh.
sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusĐể thay vì dùng kháng sinh không có tác dụng đối với virut, các nhà khoa học đã nghiên cứu thành công một số thuốc diệt virut dựa trên cơ sở sự hiểu biết về cấu trúc và cơ chế xâm nhiễm, nhân lên trong tế bào túc chủ của virut. Tuy vậy, virut luôn thay đổi hình dạng và do đó luôn có khả năng kháng lại thuốc, đó là những điều bất lợi cho việc dùng thuốc tiêu diệt chúng.
5. Virus và vi khuẩn lây lan như thế nào
– Một người bị lạnh có thể lây nhiễm vi khuẩn/virus bằng cách ho hoặc hắt hơi.
– Vi khuẩn hoặc virus có thể được lây lan bằng cách chạm hoặc bắt tay với người khác.
– Chạm vào thức ăn với bàn tay bẩn cũng sẽ cho phép virus hoặc vi khuẩn từ ngoài lây lan tới ruột.
– Lây qua dịch cơ thể:  như máu, nước bọt và tinh dịch, có thể chứa các vi sinh vật, ví dụ bằng cách tiêm hoặc quan hệ tình dục (đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng do virus như viêm gan hoặc AIDS).sự khác nhau giữa vi khuẩn và virus– Virus lây lan theo nhiều cách; virus thực vật thường được truyền từ cây này sang cây khác qua những loài côn trùng hút nhựa cây như rệp vừng; trong khi virus động vật lại có thể được truyền đi nhờ nhữngcôn trùng hút máu. Những sinh vật mang mầm bệnh như vậy được gọi là những vector.
Virus cúm lan truyền thông qua ho và hắt hơi. Norovirus và rotavirus, nguyên nhân chính của bệnh viêm dạ dày-ruột siêu vi, lây lan qua đường phân-miệng và truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc, cũng như xâm nhập vào cơ thể qua thức ăn hay nước uống.
HIV là một trong vài loại virus lây nhiễm thông qua quan hệ tình dục và tiếp xúc với máu bị nhiễm bệnh. Mỗi virus chỉ có thể xâm nhiễm vào một số dạng tế bào vật chủ nhất định, gọi là “biên độ vật chủ” (host range); biên độ này có thể rất hẹp hoặc rất rộng, tùy vào số lượng những sinh vật khác nhau mà virus có khả năng lây nhiễm.sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusSự xâm nhập của virus trong động vật đã kích hoạt một phản ứng miễn dịch nhằm loại bỏ virus xâm nhiễm. Những phản ứng miễn dịch cũng có thể được tạo ra bởi vắc-xin, giúp tạo ra miễn dịch thu được nhân tạo đối với một virus xâm nhiễm nhất định.
Tuy nhiên, một số virus, bao gồm những loại gây ra AIDS và viêm gan siêu vi, lại có thể trốn tránh những phản ứng trên và gây ra sự nhiễm bệnh mãn tính. Đa phần các chất kháng sinh không có hiệu quả đối với virus, dù vậy cũng đã có những loại thuốc kháng virus được phát triển.
6. Làm thế nào để tránh nhiễm trùngphòng bệnh do vi khuẩn và vi rút gây ra– Rửa tay thật kỹ (thường là một trong những cách tốt nhất để tránh bị cảm cúm).
– Bắt tay với người bị cảm lạnh là nguy hiểm, do đó, tránh dụi mắt hoặc mũi của bạn sau đó.
– Thức ăn phải được nấu chín hoặc làm lạnh càng nhanh càng tốt.
– Rau và thịt phải được lưu giữ riêng và chuẩn bị trên thớt riêng biệt.
– Khi bị cảm cúm, hoặc hắt hơi, sổ mũi cần chuẩn bị khăn giấy, khăn cá nhân để ngăn chặn đưa virus, vi khuẩn ra ngoài môi trường. Cần luyện thói quen ho vào cánh tay áo (nếu không có khăn giấy) và khạc nhổ vào giấy vệ sinh rồi gói lại cho vào thùng rác.phòng bệnh do vi khuẩn và vi rút gây ra– Một số sinh vật bị giết khi thức ăn được nấu chín, nhưng chúng vẫn có thể để lại các chất độc hại có thể gây ra tiêu chảy và nôn mửa. Hạn chế ăn các thức ăn để qua đêm, vì dù đun sôi, vi khuẩn có thể chết, nhưng độc tố gây bệnh do vi khuẩn tạo ra trong thực phẩm vẫn còn.
– Việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục làm giảm khả năng lây lan bệnh qua đường tình dục.
– Giữ phong cách sống và tinh thần tốt để có hệ miễn dịch khỏe mạnh.
7. Một số bệnh do vi rút gây ra và cách phòng bệnh
Tiêu chảy do vi rút: Bệnh tiêu chảy mùa đông do Rota vi rút gây ra và thường chỉ kéo dài trong 3 – 7 ngày. Khi bị bệnh thường có biểu hiện sốt nhẹ, hơi mệt, nôn, tiêu chảy, ở trẻ em có quấy khóc… Người bệnh đi ngoài nhiều lần, phân lỏng, màu vàng chanh hoặc trắng lẫn dịch nhầy, có khi như màu hoa cà, hoa cải. Là một bệnh thông thường, nhưng nếu bị tiêu chảy kéo dài dẫn đến mất nước, mất điện giải trầm trọng có thể dẫn tới tử vong nếu không được bù nước, bù điện giải kịp thời. Hiện nay, chưa có trị liệu đặc hiệu đối với vi-rút Rota.sự khác nhau giữa vi khuẩn và virusHiện nay đã có vacxin ngừa Rotavirus, 60% nguyên nhân gây tiêu chảy cấp ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Bạn nên cho bé đi uống vacxin từ tháng thứ 2 sau sinh.
Sốt do vi rút:  Các triệu chứng sốt vi rút điển hình là ban đầu sốt nhẹ khoảng 38 – 38,5 độ C, sau đó bùng lên sốt cao đến 39 độ C hoặc cao hơn. Nhiều người đau họng, ho hắng nhẹ, đau nhức mình mẩy, vã mồ hôi, mệt mỏi. Thường sau 5 – 6 ngày, bệnh sẽ tự khỏi. Về điều trị, chỉ cần dùng thuốc hạ sốt khi sốt cao, hoặc dùng các loại thuốc cảm để chữa triệu chứng đau nhức, sổ mũi, ho… Ngoài ra nên súc miệng nước muối và nhỏ mũi thường xuyên. Không nên dùng kháng sinh.phòng bệnh do vi khuẩn và vi rút gây raSốt vi rút là bệnh dễ lây, nhất là trong gia đình và công sở, nơi dùng điều hòa không khí. Do đó, người bị sốt vi rút nên hạn chế tiếp xúc với người khác, nhất là trẻ em. Nếu mệt nặng, nên nghỉ làm. Những người xung quanh nên phòng bệnh bằng cách nhỏ nước muối, ăn nhiều hoa quả giàu vitamin C và bảo vệ sức khỏe. Để cơ thể có sức đề kháng tốt cần ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng, ăn thức ăn dễ tiêu như cháo, súp… ngoài ra nên uống nhiều nước, nước lọc, nước hoa quả…
8. Cách phòng ngừa các bệnh do vi khuẩn, virus gây ra
Bạn cần có một phong cách sống lành mạnh, tinh thần tích cực để giúp hệ miễn dịch khỏe mạnh. Vì khi hệ miễn dịch yếu thì vi khuẩn hoặc virus nào cũng có thể tấn công bạn. Bạn cần thực hiện 8 điều tốt sau đây nhé:thuc-pham-tot-cho-suc-khoe-2– Ăn tốt: đủ dinh dưỡng, cân bằng, hợp lý, tươi, sạch, an toàn,
– Uống đủ nước và đúng cách.
– Ngủ tốt: ngủ đúng giờ, phòng thoáng khí, đông ấm, hè mát, ngủ sâu giấc.
– Tập tốt: Tập thể dục và vận động hàng ngày, để thúc đẩy quá trình trao đổi chất và đào thải độc tố.
– Nghĩ tốt: suy nghĩ tích cực, lạc quan, để có sức khỏe tinh thần tốt.
– Môi trường sống tốt: xanh, sạch, đẹp
– Học tốt: học các kiến thức chăm sóc, bảo vệ và phòng bệnh mỗi ngày.6 điều tốt nên làm mỗi ngày– Làm tốt: Làm tốt công việc của bạn để có tài chính tốt đảm bảo cho bản thân và gia đình.
Chúc các bạn luôn vui khỏe và hạnh phúc!

Giải Nobel Y khoa: Tôn vinh người tiên phong điều trị bệnh ký sinh

0

Hai khám phá phương pháp trị sự lây nhiễm giun tròn và khám phá phương pháp điều trị sốt rét vừa đoạt giải Nobel Y khoa "giúp con người có giải pháp mạnh mẽ và đột phá chống lại những căn bệnh".


Từ trái qua: Ông William C. Campbell, Ông Satoshi Omura và Bà Tu Youyou - Ảnh: Reuters
Từ trái qua: Ông William C. Campbell, Ông Satoshi Omura và Bà Tu Youyou - Ảnh: Reuters
Tại buổi công bố giải Nobel y khoa 2015 vào 4g30 chiều 5-10 (giờ Việt Nam), hội đồng trao giải Viện Karolinska của Thụy Điển chia đều giải thưởng cho hai khám phá phương pháp trị sự lây nhiễm giun tròn và khám phá phương pháp điều trị sốt rét.
“Hai khám phá trên giúp con người có được giải pháp mạnh mẽ và đột phá chống lại những căn bệnh đang ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người mỗi năm - hội đồng trao giải nhận định - Những người đoạt giải Nobel năm nay đã cách mạng hóa phương pháp điều trị một số trong những căn bệnh ký sinh tàn khốc nhất”. Giải thưởng dành cho những người đoạt giải là khoảng 960.000 USD.
Không thể đo đếm được
“Các bệnh gây ra do các loài ký sinh là tai họa của loài người trong hàng ngàn năm qua và vẫn đang là một vấn đề lớn của y khoa toàn cầu” - tuyên bố của hội đồng khi trao một nửa giải thưởng cho hai nhà khoa học William C. Campbell and Satoshi Omura.
Từ nghiên cứu vi khuẩn đất trồng, nhà khoa học Ireland Campbell và nhà khoa học Nhật Bản Omura đã sáng chế loại thuốc mới là Avermectin giúp trị hiệu quả bệnh mù sông do giun chỉ và bệnh giun chỉ bạch huyết, còn gọi là bệnh phù chân voi, cũng như các bệnh ký sinh khác.
Trước đó, thuốc trị các loại bệnh ký sinh thường có tác dụng phụ nguy hiểm nhưng không mấy hiệu quả.
Nữ khoa học gia Trung Quốc Tu Youyou nhận một nửa giải thưởng còn lại nhờ công trình nghiên cứu thảo dược truyền thống để trị bệnh sốt rét. Bà Tu là người khám phá Artemisinin, loại thuốc giúp giảm tỉ lệ tử vong ở những người mắc bệnh sốt rét, một căn bệnh gây ra do ký sinh trùng.
Trước đó, bất chấp các tiến bộ trong việc điều trị bệnh sốt rét, hơn nửa triệu người tử vong mỗi năm vì căn bệnh này, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em ở những khu vực kém phát triển của châu Phi. 3,4 tỉ người, tương đương một nửa dân số Trái đất, có nguy cơ bị sốt rét.
“Bây giờ chúng ta đã có các loại thuốc tiêu diệt những ký sinh này từ rất sớm trong vòng đời của chúng - Reuters dẫn lời bà Juleen Zierath, chủ tịch hội đồng trao giải Nobel năm nay, nói - Chúng không chỉ diệt ký sinh mà còn ngăn chúng lây lan”. Hội đồng cho rằng tác động của những khám phá này trong việc cải thiện sức khỏe con người là “không thể đo đếm được”.
Y học cổ truyền và phụ nữ
Khám phá của nữ khoa học gia Trung Quốc thu hút nhiều sự chú ý khi tập trung vào các loại dược thảo truyền thống để điều trị bệnh sốt rét. Theo tuyên bố của hội đồng trao giải, bà Tu nhận thấy chiết xuất từ cây Artemisia annua, cây thanh hao hoa vàng, có khả năng chống sốt rét nhưng không ổn định.
Bà tiếp tục nghiên cứu, tham khảo các văn học cổ và khám phá phương pháp chiết xuất được thành phần chống sốt rét hiệu quả từ loại cây này. Thành phần được gọi là Artemisinin này có khả năng tiêu diệt ký sinh trùng gây bệnh sốt rét ngay từ giai đoạn đầu.
“Artemisinin là một loại thuốc mới nhưng cũng đã có từ lâu, từ một loại cây chủ yếu trong y học cổ truyền Trung Quốc. Nhưng nó đã thay đổi cách điều trị sốt rét” - tờ Guardian nhận định. Bà Tu là người Trung Quốc đầu tiên đoạt giải Nobel y khoa.
Tờ Dagens Nyheter của Thụy Điển dự báo các nhà trao giải Nobel năm nay sẽ cân nhắc sự chênh lệch giới tính của những nhà khoa học đoạt giải, do những năm qua đa số người đoạt giải là nam giới. “Hội đồng Nobel năm nay do phụ nữ đứng đầu và số nữ ứng viên được dự đoán đoạt giải cũng cao bất thường” - tờ báo nhận định.
Tờ Dagens Nyheter cũng dự đoán nhà khoa học nữ người Mỹ Deborah Jin sẽ được trao giải Nobel vật lý nhờ công trình nghiên cứu ứng dụng những loại khí siêu lạnh.
Đài phát thanh Thụy Điển dự đoán nhà thiên văn học Mỹ Vera Rubin, người tiên phong trong nghiên cứu tỉ lệ vòng xoay Ngân hà, sẽ giành giải này.
Trước đó, Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng được dự đoán là ứng viên sáng giá cho giải Nobel hòa bình năm nay.
TRẦN PHƯƠNG

Lý lịch khoa học khó tin của người Trung Quốc đầu tiên giành Nobel Y học

0

Bà Tu Youyou (Đồ U U) là 1 trong 3 người được trao giải Nobel Y học 2015. Bà chính là người mang quốc tịch Trung Quốc đầu tiên giành giải thưởng cao quý này. 

Nhưng điều thú vị hơn là bà Đồ U U đã được trao giải Nobel Y học dù bà được mệnh danh là  “Giáo sư 3 không”: Không có bằng sau đại học, không có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học ở nước ngoài, và không là thành viên của bất cứ viện hàn lâm nào
Bà Đồ U U là người chiếm kỉ lục thứ hai về độ tuổi khi được trao giải Nobel y sinh học chỉ sau bà Peyton Rous – người được trao giải Nobel y sinh học năm 1966, lúc 87 tuổi. Bà Đồ U U sinh ngày 30/12/1930, năm nay đã 85 tuổi. Khi trao giải cho bà, Uỷ ban Nobel không liên lạc được bà, vì chẳng ai biết số điện thoại. Khi liên lạc được và nhận được tin, bà thản nhiên nói "Tôi đã quá già cho cái giải này". Cần nói thêm là trước đây 4 năm, năm 2011, bà được trao giải Lasker ~ DeBakey của Mĩ, và lúc đó bà đã 81 tuổi.
Bà Đồ U U cũng là một trong những nữ khoa học hiếm hoi được trao giải này. Trong y khoa, có khoảng 40% nhà khoa học là nữ giới, nhưng trong số 106 người được trao giải Nobel thì chỉ có 12 người là nữ.
Giải Nobel của bà Đồ bắt nguồn từ chiến tranh Việt Nam
Bà có xuất thân bình dân trong một gia đình lao động tại Trung Quốc. Bà thi vào Đại học Bắc Kinh năm 1951, và tốt nghiệp cử nhân dược học năm 1955. Sau khi tốt nghiệp bà được phân công về công tác ở Viện y học cổ truyền. Bà cho biết thời gian đó, Viện y học cổ truyền cố công nghiên cứu tìm ra những thuốc để điều trị các bệnh phổ biến như nhiễm trùng, gan, thận, tiêu hoá.
Bà quyết chí theo đuổi sự nghiệp y học cổ truyền, một phần là do cha bà có chút kiến thức về lĩnh vực này, và một phần lớn khác là khi còn nhỏ bà thấy người dân chung quanh dùng những bài thuốc dân gian xem ra rất có hiệu quả. Bà muốn dùng kiến thức dược học để tìm hiểu thêm về cơ chế của các bài thuốc cổ truyền.
Và sự nghiệp của bà Đồ U U có lẽ vẫn sẽ chỉ là một người bình thường, nếu không có sự ra đời của dự án 523. Nguồn gốc của Dự án 523 là từ cuộc chiến chống Mĩ tại Việt Nam. Khi ấy, có rất nhiều bộ đội hi sinh trong rừng vì bệnh sốt rét. Trong vai trò là một đồng minh của Việt Nam, Trung Quốc đã thành lập dự án tìm thuốc điều trị bệnh sốt rét vào ngày 25/3/1967. Dự án bí mật này mang bí số 523 và bà Đồ U U được chỉ định đứng đầu Dự án 523.
Để thực hiện Dự án 523, bà Đồ U U và 3 đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu bắt đầu bằng cách đọc y văn cổ. Họ thu thập được gần 2000 bài thuốc, và sau cùng thì khu trú chỉ 640 loại dược thảo, và trong số này chỉ có một số ít là có triển vọng. Một trong những hợp chất có triển vọng nhất là Artemisia Annua (hay cây ngải), mà người Trung Quốc đã dùng để điều trị nhiều bệnh qua hàng ngàn năm. Một trong những y văn cổ nêu đích danh cây ngải được dùng cho điều trị sốt.
Sau nhiều lần thất bại trong việc chiết xuất và thí nghiệm, cuối cùng thì nhóm nghiên cứu cũng đạt được thành công bước đầu trên chuột. Họ dùng ethanol để chiết xuất hoạt chất từ cây ngải, và khi thí nghiệm trên chuột thì thấy nó có khả năng ức chế rất tốt. Nhóm nghiên cứu nhận được điện chúc mừng của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Nhưng sau đó, nhóm nghiên cứu thử thêm trên khỉ và một nhóm chuột khác thì kết quả không khả quan, và ai cũng ngạc nhiên, chẳng hiểu chuyện gì xảy ra.
Bà Đồ cho biết bà lại tìm cổ thư để đọc. Bà phát hiện 1 đoạn ngắn trong y văn cổ viết rằng "Một bài thuốc khác là: một nhóm cây ngải, ngâm trong 2.2 lít nước, bóp chặt lại, lấy nước ép, và uống hết nước ép." Từ câu văn này, bà Đồ nghĩ rằng quá trình chiết xuất dùng nhiệt độ cao chắc có vấn đề vì làm tan biến hết hoạt chất, và hạ nhiệt độ có thể giúp giữ lại hoạt chất. Bà thiết kế lại thí nghiệm, và lại thử nghiệm trên chuột và khỉ, và lần này thì khả năng ức chế là 100%! Đây là một sự đột phá đầu tiên.
Tự thử nghiệm trên bản thân
Nhưng thời đó chẳng ai nghĩ đến việc công bố kết quả, vì đây là một dự án quân sự và bí mật. Vả lại, cho dù muốn công bố, bà cũng chẳng biết công bố ở đâu trong khi Cách mạng Văn hoá đang hoành hành cả nước.
Vấn đề đặt ra là thuốc có hiệu quả trên người hay không? Để trả lời câu hỏi này, bà và cộng sự ... tự thí nghiệm. Họ tự gây sốt rét và uống thử thuốc. Kết quả đúng như ý muốn. Nhưng để tìm hiểu thêm, bà và cộng sự đi Hải Nam, nơi có nhiều bệnh nhân sốt rét, để thử nghiệm. Họ làm thử nghiệm trên 21 bệnh nhân bị nhiễm P. vivax và P. falciparum, và kết quả cũng rất ư khả quan.
Tất cả 21 bệnh nhân hết bệnh trong vòng chỉ 2 tuần. Sau đó, họ còn dùng mô hình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (RCT) để thử nghiệm thêm, và kết quả cũng rất tốt. Bà cho biết sau chuyến công tác ở Hải Nam về, đứa con gái không nhận ra bà vì đen đúa quá sau mấy tháng trời phơi nắng. Còn chồng bà thì đi cải tạo ở vùng quê trong cơn lốc Cách mạng Văn hoá.

Tổng thống Nga Putin: Ngài Blatter xứng đáng nhận giải Nobel Hòa bình
Vntinnhanh.vn - Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết ông không tin Chủ tịch FIFA Sepp Blatter có liên quan tới các vụ bê bối tham nhũng.
Thành quả của họ được tập đoàn dược Roche (Thuỵ Sĩ) chú ý. TS Keith Arnold, lúc đó là một chuyên gia của Trung tâm thí nghiệm của Roche ở vùng Viễn Đông, tiến hành một công trình RCT qui mô lớn và có hệ thống hơn. Năm 1982, họ công bố kết quả nghiên cứu về hiệu quả của Artemisinin trên tập san y khoa lừng danh là Lancet. Ngạc nhiên thay, bài báo trên Lancet không có tên của Đồ U U!
Sau khi thành công với Artemisinin, nhóm nghiên cứu của Arnold tiếp tục thử nghiệm bằng cách điều trị với Artemisinin và mefloquine hoặc Fansidar, và kết quả thậm chí còn tốt hơn so với Artemisinin. Cho đến nay thì phương pháp điều trị phổ biến nhất là dùng Artemisinin cùng với một trong hai loại thuốc trên. Chính nhờ vào công trình này và nỗ lực của Arnold, Artemisinin mới được thế giới phương Tây biết đến.
Người khiêm nhường
Dù thành tựu quan trọng như thế, bà Đồ U U là người rất khiêm nhường và lúc nào cũng nhỏ nhẹ. Trong một hội nghị quốc tế về bệnh sốt rét ở Thượng Hải vào năm 2005, một chuyên gia người Mĩ nổi tiếng về bệnh này là Louis Miller hỏi đồng nghiệp ai là người phát hiện Artemisinin, thì ngạc nhiên thay, chẳng ai biết! Thế là Miller và đồng nghiệp người Mĩ gốc Hoa là Xinzhuan Su bắt đầu tìm hiểu quá khứ, và họ phát hiện chính bà Đồ U U là người có công đầu.
Nhưng họ cho biết rất khó khai thác thông tin từ bà, vì bà không nói về mình (dù qua người con rể là bác sĩ ở Mĩ làm thông dịch). Hai nhà nghiên cứu này phát hiện rằng năm 1977 bà Đồ và nhóm nghiên cứu mới công bố kết quả đầu tiên trên một tập san y học Trung Quốc, và bài báo không có tác giả cá nhân mà chỉ tác giả tập thể, theo cách làm thông lệ thời ấy.
Nhưng lịch sử khoa học khá công bằng. Các nhà khoa học Mĩ nhận ra được tầm quan trọng của khám phá, và đã giúp bà làm hồ sơ để được trao giải Lasker ~ DeBakey. Năm 2011, bà được trao giải thưởng danh giá này, và năm nay thì Uỷ ban giải thưởng của Viện Karolinska quyết định trao giải thưởng Nobel Y sinh học 2015. Như vậy, Bà Đồ U U là người thứ 3 được trao giải Nobel vì công trình liên quan đến bệnh sốt rét.
Nhưng giải thưởng Nobel cho bà Đồ U U cũng xảy ra một sự cố. Số là Ts Keith Arnold (người làm RCT và dịch Dự án 523 sang tiếng Anh được đề cập ở trên) viết thư phản đối rằng việc trao giải Nobel chỉ cho bà Đồ U U là một sự bất công. Theo ông Arnold, bà Đồ U U rõ ràng là xứng đáng được giải, nhưng hai người cộng sự khác của bà là Luo Zheyuan và Li Guoqiao cũng đáng được giải.
Một chuyên gia nổi tiếng khác là Gs Nicholas J White cũng đồng ý là Luo Zheyuan và Li Guoqiao nên được ghi công. Tuy nhiên, Uỷ ban giải Nobel có nghe họ hay không là chuyện khác, và Uỷ ban này không có tiền lệ trao giải cho hơn 3 người.
Nếu tìm trong Pubmed về những công trình của bà Đồ U U, bạn sẽ thất vọng vì chẳng thấy đâu cả. Bà là người được bệnh danh là "Giáo sư 3 Không": Không có bằng sau đại học, không có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học ở nước ngoài, và không là thành viên của bất cứ viện hàn lâm nào. Dù là giáo sư của "Ba Không", nhưng công trình của bà giúp cứu sống hàng triệu người trên thế giới, và khoa học đã rất công bằng với đóng góp của bà.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (Đại học New South Wales

Đã chứng minh được thuốc Truvada ngăn ngừa được HIV với hiệu quả 100%

0

Rõ ràng, việc Truvada được công nhận đạt hiệu quả 100% trong việc ngăn ngừa virus HIV nhưng sẽ vẫn còn quá sớm để có thể kết luận đây có phải là bước ngoặt thực sự trong cuộc chiến chống lại căn bệnh quái ác AIDS hay không?

Sau hơn 2 năm thử nghiệm trên khoảng 600 bệnh nhân, thuốc Truvada - loại thuốc dự phòng trước phơi nhiễm (preexposure prophylaxis - PrEP) - đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) công nhận là có khả năng ngăn ngừa virus HIV với hiệu quả 100%.
Truvada là "thần dược" chống HIV...

Quay ngược lại năm 2012, FDA đã phê duyệt đề án điều trị hàng ngày cho những bệnh nhân có nguy cơ nhiễm HIV cao. Những loại thuốc được sử dụng trong đề án này có PrEP - được lưu hành với tên gọi Truvada, có tác dụng ngăn ngừa HIV xâm nhập vào cơ thể bệnh nhân khi họ tiếp xúc với ma túy hay quan hệ tình dục không an toàn.
Truvada gồm hai thành phần là emtricitabine (200mg) và tenofovir disoproxil fumarate (300mg). Từ năm 2004, thuốc này đã được FDA phê chuẩn có công dụng kháng virus HIV và nó được liệt kê vào phác đồ điều trị HIV cho trẻ em trên 12 tuổi. Để điều trị HIV, người ta kê toa kết hợp từ khoảng 30 loại thuốc có tác dụng kháng retrovirus (gọi chung là thuốc ARV) để tránh kháng thuốc.
Truvada là một trong các thuốc ARV, chúng được kết hợp với các thuốc khác nhằm điều trị giúp bệnh nhân chung sống hòa bình với bệnh. Lúc này họ có thể xem HIV giống căn bệnh mạn tính khác như tiểu đường, tim mạch… và có thể duy trì tuổi thọ tới 80-90. Tuy nhiên sau nhiều thử nghiệm, trong khoảng 30 thuốc trên, chỉ có Truvada được công nhận là có thêm công năng là dự phòng nhiễm HIV.
... hay là nguyên nhân của những đại dịch truyền nhiễm khác?

Jonathan Volk, bác sỹ làm việc tại Trung tâm y tế Kaiser Permanente (San Francisco), cho biết:"Nghiên cứu của chúng tôi đã đặt một viên gạch nền quan trọng trong việc đưa PrEP vào chiến dịch phòng chống HIV trên toàn thế giới, và chúng tôi tin rằng phương pháp này sẽ mở ra một hướng ngăn ngừa điều trị HIV mới. Cho đến lúc này, những kết quả đều cho thấy sự hiệu quả của PrEP trong việc ngăn ngừa lây nhiễm HIV, và đó là bằng chứng cho sự thành công của dự án". Trước đó, kết quả thử nghiệm lâm sàng của dự án này chỉ đạt được tỷ lệ phòng chống HIV khoảng 86%, chứ chưa bao giờ đạt mức 100% như hiện tại.
Tuy nhiên, nhiều người đã lên tiếng chỉ trích và cho rằng các loại thuốc này sẽ khuyến khích quan hệ tình dục không an toàn, đặc biệt là ở người đồng tính và lưỡng tính – nhóm có nguy cơ mắc HIV cao nhất. Họ còn cho rằng loại thuốc này thực tế cũng chỉ là một loại "ma túy". Nhưng những người ủng hộ nói rằng thuốc này có khả năng ngăn ngừa loại virus đã lây lan cho gần 40 triệu người trên toàn thế giới, đặc biệt là những người không được tiếp cận với bao cao su.
Ngoài ra, những người phản đối loại thuốc này có lý do chính đáng khi nghiên cứu cho thấy thuốc chỉ đạt hiệu quả trong việc ngăn ngừa HIV chứ không ngăn chặn việc lây nhiễm các bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục khác (STIs) như bệnh lậu, giang mai, hay Chlamydia…Thậm chí, thực tế cho thấy trong hơn 1,2 triệu người nhiễm HIV tại Hoa Kỳ, chỉ có khoảng 2000 người đồng ý sử dụng Truvada sau khi nó được FDA phê duyệt năm 2012.
Rõ ràng, việc Truvada được công nhận đạt hiệu quả 100% trong việc ngăn ngừa virus HIV nhưng sẽ vẫn còn quá sớm để có thể kết luận đây có phải là bước ngoặt thực sự trong cuộc chiến chống lại căn bệnh quái ác AIDS hay không?
Tham khảo Iflscience

Đã có thuốc trị nhồi máu cơ tim và đột quỵ

0

Các nhà khoa học tại Khimki ngoại ô Moscow đã phát triển thành công một loại thuốc chống đông máu có thể cứu sống nhiều người.



Loại thuốc dùng để chống đông máu này được các nhà khoa học Nga nghiên cứu chế tạo trong ba năm, có tên gọi là "Tiareksaban." Loại thuốc mới đã được giới thiệu tại Hội nghị thượng đỉnh y tế quốc tế ở Berlin và được cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá cao.
Máu đông sẽ gây ra đau tim hoặc đột quỵ

Thuốc "Tiareksaban" làm giảm nguy cơ tắc nghẽn mạch máu nhiều lần. Trong thực tế, cục máu đông này khá nguy hiểm. Thông thường, nó được hình thành trong các tĩnh mạch và động mạch sau phẫu thuật. Máu đông tụ trở thành một loại nút ngăn máu di chuyển trong mạch máu. Điều này sẽ dẫn đến một cơn đau tim hoặc đột quỵ. Người chết vì huyết khối có số lượng lớn nhất nhì thế giới. Thuốc của các nhà khoa học ngoại ô Moskva sẽ kiểm soát các cục máu đông.

Một trong những ưu điểm chính của sản phẩm mới là an toàn. Trong khi đó, nguy cơ chảy máu trong khi dùng thuốc tương tự là khá lớn. Ngoài ra "Tiareksaban" sẽ rẻ hơn 25% so với các chất tương tự nhập khẩu.
Khoảng từ năm sau, sản phẩm mới sẽ có bán trong nước Nga.
Theo Sputniknews

Chế tạo thành công "phổi mini" ứng dụng trong nghiên cứu chữa bệnh xơ nang phổi

0
mini-lung.
Hình ảnh phổi mini nuôi cấy trong phòng thí nghiệm

Sử dụng các tế bào gốc được lấy từ da của bệnh nhân xơ nang phổi, các nhà khoa học tại đại học Cambridge đã thành công trong việc tạo ra một cụm tế bào 3D hay được gọi là những "lá phổi mini" (mini-lung) mô phỏng chức năng và cách thức hoạt động của những lá phổi bị bệnh. Với kết quả của nghiên cứu, các bệnh nhân xơ nang phổi sẽ có nhiều hy vọng hơn trong việc tìm ra loại thuốc đặc trị khi các thử nghiệm y học sẽ được thực hiện dễ dàng trên một quy mô lớn hơn, đồng thời diễn tiến của bệnh lý cũng được quan sát chính xác hơn trên những chiếc phổi mini này. Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Stem Cells and Development.

Về mặt di truyền, xơ nang phổi được xem là một điều kiện đơn diễn (monogenic condition), nói một cách khác nó được tạo nên bởi một đột biến di truyền đơn. Trong đó, biểu hiện chính của xơ nang phổi là những lá phổi bị lấp đầy bởi những dịch nhầy đặc gây nên tình trạng khó thở và tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp cho người bệnh. Đây được coi là căn bệnh không thể chữa khỏi và tồn tại suốt đời. Tất nhiên, tuổi thọ của những người mắc bệnh xơ nang sẽ thấp hơn những người bình thường.

Nghiên cứu được thực hiện đối với một chúng xơ nang phổi điển hình (chiếm 75%) gây nên bởi một đột biến trong gen CFTR, thường gọi là là đột biến delta-F508. Các tế bào được lấy từ da người bệnh sẽ được tái lập trình tới trạng thái đa năng cảm ứng (induced pluripotent state - ở trạng thái này các tế bào có thể phát triển thành bất cứ loại tế bào nào trong cơ thể) và trở thành các tế bào đa năng cảm ứng (iPS - induced pluripotent stem). Sử dụng các tế bào loại này, các nhà khoa học tái tạo lại sự phát triển của phôi phổi trong phòng thí nghiệm bằng cách kích hoạt một quá trình hình thành phôi dạ (gastrulation) theo đó các tế bào này sẽ tạo thành các lớp bào riêng biệt bao gồm đầu tiên là các nội bì sau đó là ruột trước (foregut), từ đó hình thành nên lá phổi. Tiếp sau đó, những tế bào này sẽ tiếp tục được kích thích để phát triển thành mô đường hô hấp ngoại biên (the distal airway), phần của phổi chịu trách nhiệm luân chuyển khí và thường liên quan đến các bệnh như xơ nang phổi hay một số dạng ung thư phổi.

Sau mỗi cuộc thử nghiệm với một loại thuốc tiềm năng, để có thể kiểm chứng khả năng hoạt động của những chiếc phổi mini này, các nhà nghiên cứu sử dụng một loại thuốc nhuộm huỳnh quang nhạy cảm với sự có mặt của clorua. Nếu những lá phổi mini hoạt động tốt, chúng sẽ cho phép clorua đi qua và do vậy chất huỳnh quang sẽ đổi mầu. Ngược lại, chất huỳnh quang sẽ không thay đổi, điều này đồng nghĩa với việc loại thuốc thử nghiệm là không có tác dụng.

Nhóm nghiên cứu cho biết, công nghệ này sẽ giúp việc nghiên cứu phản ứng của lá phổi bị bệnh với hàng chục nghìn hợp chất một cách dễ dàng. Ngoài ra, nghiên cứu còn có thể được phát triển lên để ứng dụng trong điều trị các căn bệnh nguy hiểm khác như ung thư phổi hay xơ nang phổi tự phát. Theo tiến sĩ Nick Hannan, người dẫn đầu dự án, đây là biện pháp chính xác, thực tế và cũng đạo đức hơn nhiều so với các biện pháp truyền thống phải sử dụng một lượng lớn động vật để nghiên cứu.

Được biết trước đó các nhà khoa học cũng đã thành công trong việc tạo ra “bộ não mini” để nghiên cứu bệnh Alzheimer hay “gan mini” để nghiên cứu các bệnh về gan.
 

Popular Posts

Labels

Coolbthemes.com .